TaDungGinseng.comTà Đùng Ginseng
Sâm Tà Đùng là gì

Vì sao sâm Bố Chính gốc miền Trung lại có mặt ở cao nguyên Tà Đùng

Mang tên đất Bố Chính nhưng sâm thổ hào không chỉ sống ở Quảng Bình cũ. Vì sao loài này dễ đi xa, cây theo người lên cao nguyên thế nào và đi xa thì giữ gì, đổi gì.

Close view of young Bo Chinh ginseng seedlings in a raised red soil bed, a hand from behind pulling weeds, light shade from coffee bushes, low angle, soft daylight

Sâm Bố Chính có mặt ở cao nguyên Tà Đùng vì hai lý do: loài này vốn phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới châu Á chứ không riêng đất Bố Chính, và nó là một cây dễ di thực, lớn nhanh, ưa nắng, nhân giống bằng hạt đơn giản, nên đi theo người tới bất cứ vùng đất ấm, thoát nước nào. Cái tên Bố Chính ghi lại nơi củ làm nên tiếng trong sử sách, không phải ranh giới sống của cây.

Ở vùng hồ Tà Đùng, cây đến cùng làn sóng người đi lập nghiệp và phong trào trồng dược liệu những năm gần đây. Bên mình không có tài liệu chắc về người đầu tiên hay năm đầu tiên đưa sâm lên vùng hồ, nên không ghi mốc nào. Điều chắc là cây đã đi một quãng rất xa so với bãi cát Quảng Bình cũ, và quãng đường ấy giải thích nhiều điều về sâm Tà Đùng hôm nay.

Bài này đi theo góc "cây đi xa": vì sao loài này đi được còn nhiều loài sâm khác thì không, đi xa thì cái gì giữ nguyên và cái gì có thể đổi. Còn chuyện cụ thể cây cần gì và đất trời vùng hồ đáp ứng tới đâu có bài riêng trong danh mục vùng trồng và thổ nhưỡng.

Tên đất không phải giới hạn của cây

Nhiều cây trồng mang tên một vùng đất nhưng sống được ở nơi khác: nhãn lồng Hưng Yên, bưởi Năm Roi, chè Shan tuyết. Tên đất ghi lại nơi cây làm nên tiếng, nơi người ta lần đầu biết tới chất lượng của nó. Sâm Bố Chính cũng vậy: sử sách thời chúa Nguyễn nhắc đến sâm của vùng Bố Chính như một sản vật quý, và từ đó cái tên đi theo cây.

Về phân bố, tài liệu thực vật ghi loài Abelmoschus sagittifolius có mặt ở nam Trung Quốc và nhiều nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam, các sách dược liệu ghi cây mọc hoang ở nhiều vùng đồi bãi từ Bắc vào Nam và được trồng ở nhiều nơi. Báo chí những năm gần đây cũng đưa tin về các vùng trồng ở Bắc Trung Bộ và nhiều tỉnh phía Nam. Như vậy cây không xa lạ với khí hậu nhiệt đới gió mùa nói chung; cao nguyên chỉ là thêm một biến thể của khí hậu ấy.

Điều này không có nghĩa củ ở mọi nơi giống nhau. Cây sống được và cây cho củ đạt chất lượng là hai chuyện. Một vùng trồng mới phải trải qua vài vụ để người trồng hiểu cây phản ứng thế nào với đất, mưa, nhiệt độ, và để có dữ liệu về chất lượng củ. Vùng hồ Tà Đùng đang ở giai đoạn tích luỹ kinh nghiệm đó.

Vì sao sâm Bố Chính dễ đi xa, còn sâm Panax thì không

Cùng mang chữ "sâm", nhưng sâm Bố Chính và các cây chi Panax như nhân sâm, sâm Ngọc Linh có khả năng di thực khác nhau rất xa. Bảng dưới so ở mức tính cây, để thấy vì sao sâm Bố Chính có mặt ở vùng hồ dễ dàng còn sâm Ngọc Linh thì không thể "mang về vườn":

Tính câySâm Bố ChínhCác cây chi PanaxHệ quả khi đưa đi nơi khác
Ánh sángƯa nắng, trồng ngoài trờiƯa bóng, cần tán rừng hoặc giàn cheSâm Bố Chính trồng được trên đất vườn trống
Tốc độ lớnNhanh, thường đào sau khoảng một đến hai nămRất chậm, nhiều năm mới thuNgười trồng thử sâm Bố Chính biết kết quả trong một hai vụ
Nhân giốngHạt nảy mầm tương đối dễ, trồng được từ củHạt cần xử lý phức tạp, cây con yếuGiống sâm Bố Chính dễ mang đi, dễ nhân
Môi trường sốngBiên độ rộng: đồi bãi, cát, đất thịt nhẹ, đất đỏVi khí hậu hẹp: mát, ẩm, độ cao nhất địnhSâm Bố Chính thích nghi được nhiều vùng nhiệt đới
Chu kỳ đầu tưNgắn, rủi ro một vụDài, vốn nằm trong đất nhiều nămHộ nhỏ dễ trồng thử sâm Bố Chính hơn

Đọc bảng này cũng thấy vì sao những lời quảng cáo "sâm Tà Đùng quý như sâm núi cao" không đứng vững. Chính những tính chất làm sâm Bố Chính dễ đi xa, ưa nắng, lớn nhanh, dễ nhân, là những tính chất khác hẳn nhóm sâm Panax. Sâm Tà Đùng có giá trị riêng của một cây trồng tốt, không cần mượn câu chuyện của cây khác.

Đi xa thì cái gì giữ, cái gì có thể đổi

Khi một cây được đưa tới vùng mới, bộ gen của nó không đổi chỉ vì đổi đất. Cây sâm trên đồi đỏ Tà Đùng vẫn là Abelmoschus sagittifolius, vẫn có lá mũi tên, hoa đỏ năm cánh, củ trắng ngà nhiều nhầy. Những đặc điểm hình thái dùng để nhận dạng loài vẫn giữ nguyên, nên các bài nhận dạng viết cho vùng Bố Chính vẫn đúng với cây ở đây.

Thứ có thể đổi là những đặc tính chịu ảnh hưởng của môi trường: tốc độ lớn, kích thước và dáng củ, thời điểm ra hoa, độ chắc của củ, và có thể cả tỷ lệ các chất trong củ. Đây là nguyên lý chung của nông học: cùng một giống chè trồng ở hai độ cao cho hai vị khác nhau, cùng một giống cà phê trồng ở hai vùng cho hai hồ sơ hương khác nhau. Với sâm Bố Chính, mức độ khác biệt cụ thể giữa Tà Đùng và quê gốc thì chưa được đo.

Ngoài ra còn một yếu tố hay bị bỏ qua là giống. Giống đưa lên vùng hồ đến từ nhiều nguồn, có thể không cùng dòng với cây ở Quảng Bình cũ. Qua nhiều vụ, nhà vườn có xu hướng giữ hạt của những cây hợp vườn mình nhất, tức là đang chọn lọc giống một cách tự nhiên. Sau nhiều năm, cây ở một vùng có thể dần mang những nét riêng do chính sự chọn lọc này, chứ không chỉ do đất.

Người mang cây lên cao nguyên

Bên mình không có tài liệu chắc chắn về việc ai, năm nào đưa sâm Bố Chính lên vùng hồ Tà Đùng, nên không ghi một mốc năm. Điều chắc hơn là Tây Nguyên, trong đó có vùng Đắk Glong cũ, là nơi người từ nhiều tỉnh đến lập nghiệp qua nhiều đợt. Người từ miền Trung mang theo hạt giống, cây quen thuộc của quê nhà là chuyện thường thấy với nhiều loại cây.

Bên cạnh đó, phong trào phát triển cây dược liệu những năm gần đây khiến nhiều nhà vườn ở Tây Nguyên tìm mua giống sâm Bố Chính từ các cơ sở giống ở miền Trung và các tỉnh phía Nam. Giống đến từ nhiều nguồn khác nhau nên chất lượng không đồng đều; có nơi gặp giống lẫn với cây cùng chi. Đây là lý do danh mục giống và nhân giống của trang dặn kỹ cách chọn nguồn giống.

Dù cây đến bằng đường nào, sâm ở vùng hồ hiện chủ yếu là cây trồng của hộ nhỏ, trồng thử, trồng xen. Nó chưa phải cây chủ lực như cà phê. Hiểu đúng vị trí đó giúp người trồng mới không kỳ vọng quá mức, và giúp người mua không tin vào những câu chuyện "vùng sâm truyền thống trăm năm" không có căn cứ.

Nếu anh chị là người trồng lâu năm ở vùng hồ và nhớ được cây sâm đầu tiên về thôn mình từ đâu, năm nào, ghi lại câu chuyện ấy kèm người làm chứng là việc rất đáng làm. Lịch sử một vùng trồng thường chỉ còn trong trí nhớ vài người, mất đi rồi thì không ai dựng lại được, và đó cũng là thứ hồ sơ chỉ dẫn địa lý sau này cần tới.

Những câu hỏi còn mở về sâm Bố Chính trên cao nguyên

Giống ở vùng hồ đến từ đâu. Chưa có khảo sát nào bên mình biết về nguồn gốc các dòng giống đang trồng quanh hồ. Biết được điều này sẽ giúp giải thích vì sao củ vườn này khác vườn kia.

Củ ở đây khác củ quê gốc tới đâu. Về dáng và mùa vụ có những quan sát theo nguyên lý; về thành phần bên trong thì chưa có số liệu so sánh công bố.

Cây có ổn định qua nhiều năm không. Một vùng trồng mới cần nhiều vụ mới biết năng suất, chất lượng có giữ được qua các năm mưa nắng khác nhau hay không.

Sâu bệnh riêng của vùng. Một cây đến vùng mới có thể gặp những loài sâu, nấm ít thấy ở quê gốc. Ghi chép của nhà vườn hiện là nguồn thông tin chính.

Có hình thành một "dòng Tà Đùng" không. Nếu nhà vườn liên tục giữ hạt của cây hợp vùng, sau nhiều năm có thể có một dòng giống mang nét riêng. Đó là chuyện của tương lai, cần chọn lọc có ghi chép mới chứng minh được.

Vùng hồ hợp tới mức nào so với các vùng trồng khác. Sâm Bố Chính đang được trồng ở nhiều tỉnh. Vùng hồ có lợi thế gì, bất lợi gì so với các vùng ấy, về năng suất, chất lượng và chi phí, hiện chưa có đánh giá độc lập nào để dẫn.

Cây vẫn vậy, cách làm phải khác

Gói lại bằng một câu: ở Tà Đùng, sâm Bố Chính vẫn là sâm Bố Chính, nhưng cách làm của vùng cát không đem nguyên lên đây được. Lịch gieo theo mùa xuân miền Trung phải dịch theo đầu mùa mưa Tây Nguyên. Luống thấp trên cát phải thành luống cao trên đất đỏ dốc. Tưới để chống gió Lào thành tưới để qua mùa khô cao nguyên. Phơi trong mùa ẩm thành phơi dưới nắng ráo. Những điều chỉnh cụ thể được viết kỹ ở các danh mục vùng trồng, kỹ thuật trồng chăm, thu hoạch và sơ chế.

Những điều chỉnh đó không làm sâm Tà Đùng "tốt hơn" hay "kém hơn" sâm quê gốc. Chúng làm ra một sản phẩm có đặc điểm riêng, và đặc điểm ấy cần được đo bằng kiểm nghiệm, ghi chép qua nhiều vụ, chứ không bằng lời quảng cáo. Người trồng làm đúng, ghi chép đủ, thì vài năm nữa vùng hồ sẽ có câu trả lời của chính mình cho câu hỏi củ ở đây khác củ ở đâu.

Với người mua, điều nên rút ra là đừng chọn sâm theo tên vùng như một nhãn bảo đảm. Hỏi cách trồng, cách phơi, có phiếu kiểm nghiệm hay không sẽ nói nhiều hơn cái tên. Một gói sâm ghi rõ thôn trồng, tháng đào, cách làm khô và kèm kết quả kiểm cơ bản đáng tin hơn nhiều so với một gói chỉ in to hai chữ Tà Đùng, dù cả hai có thể cùng từ một vùng.

Câu hỏi thường gặp

Sâm Bố Chính có mọc tự nhiên ở Tây Nguyên không?

Tài liệu dược liệu ghi loài này mọc hoang ở nhiều vùng đồi bãi trên cả nước, nhưng bên mình không có tài liệu chắc về quần thể hoang dã ở vùng hồ Tà Đùng. Sâm đang bán ở đây chủ yếu là cây trồng trong vườn của dân.

Có phải sâm Bố Chính đã được trồng ở Tà Đùng từ rất lâu?

Bên mình không tìm thấy tài liệu đáng tin về mốc năm sâm được đưa lên vùng hồ. Những câu như vùng sâm truyền thống trăm năm ở Tà Đùng không có căn cứ đã kiểm. Hiện sâm ở đây chủ yếu là cây trồng thử, trồng xen của hộ nhỏ.

Sâm Bố Chính trồng ở nơi khác có còn là sâm Bố Chính không?

Còn. Loài cây không đổi khi đổi nơi trồng; cây ở Tà Đùng vẫn là Abelmoschus sagittifolius. Thứ có thể khác là kích thước, dáng củ, mùa vụ và có thể cả tỷ lệ các chất, tuỳ đất, khí hậu, giống và cách chăm.

Sao không trồng sâm Ngọc Linh ở vùng hồ cho có giá trị cao?

Sâm Ngọc Linh là cây chi Panax ưa bóng, cần vi khí hậu mát ẩm của vùng núi cao dưới tán rừng, lớn rất chậm và được quản lý chặt. Điều kiện vườn đồi trống quanh hồ không hợp. Hai cây có nhu cầu sống gần như trái ngược nhau.

Giống sâm ở Tà Đùng có phải giống riêng không?

Hiện chưa có giống sâm Bố Chính nào được công nhận riêng cho Tà Đùng. Giống đến từ nhiều nguồn. Nếu nhà vườn giữ hạt và chọn lọc có ghi chép qua nhiều năm, về lâu dài có thể hình thành dòng giống hợp vùng, nhưng đó là việc cần chứng minh.

Vì sao nên ghi lại lịch sử cây sâm ở thôn mình?

Lịch sử vùng trồng thường chỉ nằm trong trí nhớ vài người. Ghi lại cây đến từ đâu, năm nào, ai trồng đầu tiên, kèm người làm chứng, giúp con cháu hiểu nghề và là tư liệu quý nếu sau này vùng hồ làm hồ sơ bảo hộ tên vùng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83