Làm đất trồng sâm trên đất đỏ bazan quanh hồ Tà Đùng có bốn việc chính, làm theo thứ tự: xới sâu và làm tơi tầng đất nơi củ sẽ phình ra, lấy mẫu đất gửi phân tích, bón vôi và lân theo kết quả để giảm chua, rồi trộn nhiều phân hữu cơ đã hoai vào tầng mặt. Toàn bộ nên xong trước khi mùa mưa vào dầm, vì cày xới đất đỏ lúc ướt sũng sẽ phá hỏng chính độ tơi mà mình đang cố tạo ra.
Củ sâm Bố Chính lớn lên trong vòng một năm ngay trong lớp đất này, nên làm đất kỹ một lần đáng giá hơn bón thúc nhiều lần về sau. Bài viết dừng ở mức nguyên lý và trình tự: lượng vôi, lượng phân cụ thể phụ thuộc kết quả phân tích của từng lô, anh chị nên hỏi nơi phân tích hoặc cán bộ khuyến nông để có con số đúng cho đất nhà mình. Phần lên luống, khoảng cách, cách trồng cây con nằm ở mục kỹ thuật trồng và chăm.
Củ sâm cần tầng đất thế nào
Củ sâm Bố Chính là rễ phình, mọc từ gốc thân tỏa xuống dưới và lan ra hai bên. Củ càng gặp ít lực cản thì càng thẳng và đều. Vì vậy thứ cần làm trước tiên không phải là bón gì, mà là tạo ra một khối đất tơi đủ sâu, đủ rộng quanh chỗ trồng. Nông dân vùng gốc làm việc này gần như không tốn công vì đất cát vốn tơi; trên đất đỏ, phải chủ động tạo ra.
Một cách nghĩ dễ nhớ là "nhà của củ". Phần mặt luống đến hết tầng củ là nhà, phải tơi, thoáng, nhiều mùn. Phía dưới là nền móng, chỉ cần không bị nén chặt để nước rút xuống được. Nhiều vườn cà phê cũ có một lớp đất chặt nằm ngay dưới tầng cày, do nhiều năm cày nông cùng một độ sâu và máy đi lại. Lớp này như cái đáy nồi: nước mưa thấm qua tầng mặt rồi đọng lại trên đó, ngâm đúng tầng củ.
Vì vậy, khi đào hố kiểm tra, nếu thấy một lớp đất chặt hơn hẳn ở độ sâu vừa tầm củ, việc cần làm là phá lớp đó, bằng cày sâu, cuốc sâu, hoặc ít nhất là xới sâu riêng dải đất sẽ lên luống. Bón bao nhiêu phân lên trên mà không phá lớp nén thì củ vẫn chỉ phình được trong một khoảng nông.
Lấy mẫu đất và đọc kết quả phân tích
Lấy mẫu trước khi bón bất cứ thứ gì. Mẫu đất phản ánh đất "gốc" của lô. Nếu bón vôi, phân rồi mới lấy mẫu, kết quả sẽ lệch. Nên lấy ở nhiều điểm rải đều trong chỗ định trồng, cùng độ sâu tầng củ, trộn đều rồi lấy một phần gửi đi. Lô có lưng dốc và chân dốc khác nhau rõ thì nên tách làm hai mẫu.
Độ chua (pH). Đây là chỉ số quan trọng nhất với đất đỏ. Kết quả cho biết đất chua tới đâu và có cần bón vôi hay không. Cây củ nói chung phát triển tốt khi đất chỉ chua nhẹ đến gần trung tính; đất quá chua làm rễ non dễ bị hại bởi nhôm hoà tan và hút dinh dưỡng kém.
Chất hữu cơ. Cho biết lớp mặt còn bao nhiêu mùn. Đất cà phê thâm canh lâu năm thường thấp hơn đất mới vỡ. Chỉ số thấp là tín hiệu phải bón hữu cơ nhiều và đều tay hơn.
Lân dễ tiêu và lân tổng số. Trên đất đỏ, lân tổng số có thể không thấp nhưng lân dễ tiêu lại thấp, vì phần lớn bị sắt và nhôm giữ chặt. Khoảng cách giữa hai con số này cho thấy việc giảm chua và tăng mùn quan trọng thế nào.
Kali, can-xi, ma-giê. Đất chua bị rửa trôi thường thiếu can-xi và ma-giê. Kết quả này giúp chọn loại vôi: vôi nông nghiệp thông thường bổ sung can-xi, còn vôi dolomite bổ sung cả can-xi lẫn ma-giê.
Đọc kết quả cùng người hiểu. Phiếu kết quả có nhiều chỉ số và đơn vị khác nhau giữa các phòng phân tích. Cách tốt nhất là mang phiếu tới cán bộ khuyến nông hoặc hỏi lại chính nơi phân tích để được gợi ý lượng vôi, lân phù hợp, thay vì tự áp con số đọc trên mạng.
Bón vôi trên đất đỏ: nguyên lý và những điều hay làm sai
Vôi nông nghiệp làm giảm độ chua, giảm lượng nhôm hoà tan gây hại rễ, bổ sung can-xi và giúp lân bón vào đỡ bị giữ chặt. Vôi tác dụng chậm, cần thời gian và độ ẩm để phản ứng với đất, nên phải bón sớm, trộn đều vào tầng đất định trồng, tốt nhất vài tuần trước khi trồng. Bón vôi ngay lúc trồng hoặc rắc trên mặt mà không trộn thì hiệu quả thấp hơn nhiều.
Sai lầm hay gặp thứ nhất là bón vôi cùng lúc với phân đạm dạng amoni hoặc phân chuồng tươi. Vôi làm môi trường kiềm lên cục bộ, đạm sẽ bay hơi mất dưới dạng khí. Nên bón vôi trước, cách một khoảng rồi mới bón phân. Sai lầm thứ hai là bón quá tay với suy nghĩ "càng nhiều càng tốt": đất bị kiềm hoá cục bộ cũng làm cây khó hút một số vi lượng. Đây là lý do lượng vôi nên tính theo kết quả phân tích.
Sai lầm thứ ba là bón một lần rồi quên. Trên đất đỏ mưa nhiều, độ chua quay trở lại dần theo thời gian, nhất là khi tiếp tục bón phân hoá học. Với vườn trồng sâm nhiều vụ, nên phân tích lại đất sau mỗi một, hai vụ để biết có cần bón bổ sung không. Ghi kết quả vào sổ vườn sẽ thấy rõ đất thay đổi ra sao qua từng năm.
Phân hữu cơ: loại nào, ủ thế nào
Phân chuồng phải hoai. Phân bò, phân gà, phân dê tươi chứa mầm bệnh, hạt cỏ và sinh nhiệt khi phân giải; bón tươi vào luống dễ làm thối rễ và củ non. Phân cần được ủ cho hoai: không còn mùi hôi nồng, tơi, màu nâu sẫm, cầm lên không thấy nóng. Với cây dược liệu, phân hoai còn giảm nguy cơ nhiễm vi sinh vật có hại vào củ.
Vỏ cà phê ủ — nguồn sẵn có của vùng hồ. Mỗi mùa thu hoạch cà phê, vùng hồ có một lượng lớn vỏ quả. Vỏ cà phê để nguyên chua và phân giải chậm, nhưng ủ đúng cách cùng phân chuồng, vôi và chế phẩm vi sinh thì thành nguồn hữu cơ tốt cho đất đỏ. Ủ chưa đủ thời gian thì vỏ còn nóng, còn chua, bón vào luống sâm dễ hại rễ.
Tàn dư cây trồng và phân xanh. Thân lá cây họ đậu, cỏ phát dọn chưa ra hạt, cành lá cây che bóng cắt tỉa đều có thể băm nhỏ ủ hoặc trồng vùi. Trồng một vụ cây họ đậu trước khi trồng sâm vừa thêm mùn vừa thêm đạm, lại có rễ phá đất chặt.
Trộn đều vào tầng củ, không chỉ rải mặt. Mục đích của hữu cơ ở đây là làm tơi tầng đất nơi củ phình, nên phải trộn vào đất ở độ sâu đó. Rải trên mặt có tác dụng giữ ẩm, chống váng đất, nhưng không thay được việc trộn sâu.
Làm tơi tầng mặt: những việc tay chân không thể bỏ
Ngoài vôi và phân, có những việc tốn công nhưng ảnh hưởng thẳng tới hình dạng củ:
- Nhặt sạch rễ cây cũ. Rễ cà phê, rễ tiêu, gốc cây bụi còn trong đất vừa cản củ vừa là chỗ trú của nấm và mối. Đất cà phê mới nhổ cần nhặt kỹ hơn cả.
- Nhặt đá, sỏi to. Một hòn đá nằm đúng chỗ củ phình làm củ cong hoặc tách đôi. Đất đỏ lẫn sỏi sạn nên sàng sơ phần đất lên luống nếu diện tích nhỏ.
- Đập nhỏ cục đất. Sau khi cày, đất đỏ thường vỡ thành cục to. Phơi ải vài nắng rồi đập nhỏ, bừa lại cho tơi; không để luống toàn cục đất to rỗng ruột.
- Có nơi trộn thêm vật liệu tơi. Trấu hun, xơ dừa đã xử lý, mùn cưa ủ hoai có thể giúp tầng mặt thoáng hơn trên đất quá nặng. Nên thử trên vài luống trước, vì vật liệu chưa hoai lấy mất đạm của đất trong lúc phân giải.
- Không làm đất lúc ướt sũng. Cày, cuốc lúc đất dính bết làm viên đất vỡ và đóng thành tảng khi khô. Chờ đất se mặt mới làm.
Những việc này không có số liệu đẹp để khoe, nhưng người trồng lâu năm ở vùng nào cũng nói giống nhau: củ đẹp là do đất được làm kỹ.
Làm đất trên sườn dốc: đừng xới trắng cả quả đồi
Trên lô dốc, làm đất kỹ cũng có mặt trái. Đất vừa cày xới, chưa có cây và lớp phủ, là đất dễ trôi nhất. Nếu cày trắng cả sườn đồi vào cuối mùa khô rồi gặp mấy trận mưa đầu mùa lớn, một phần lớp đất tơi vừa làm có thể theo nước xuống chân dốc, kéo theo cả vôi và phân vừa bón.
Cách giảm rủi ro là chỉ xới sâu những dải đất sẽ lên luống, giữ nguyên cỏ hoặc thảm thực vật thấp ở các dải xen giữa, nhất là ở sườn dốc mạnh. Làm từng phần lô theo đường đồng mức, làm xong phần nào lên luống, đào rãnh và phủ mặt phần đó ngay. Tàn dư cỏ phát dọn có thể xếp thành hàng ngang dốc để chặn đất. Cách này chậm hơn làm một lượt, nhưng giữ được lớp đất mặt quý giá mà phải mất rất nhiều năm mới hình thành lại.
Lịch làm đất gợi ý theo mùa ở vùng hồ
Lịch dưới đây là khung tham khảo theo nhịp hai mùa của Tây Nguyên; năm mưa sớm hay muộn thì dịch theo thực tế. Mốc quan trọng nhất là xong phần làm đất nặng trước khi mưa dầm.
| Thời điểm (khoảng) | Việc chính | Ghi chú |
|---|---|---|
| Giữa mùa khô | Đào hố kiểm tra, lấy mẫu đất gửi phân tích; dọn rễ, đá | Đất khô dễ dọn, có thời gian chờ kết quả |
| Cuối mùa khô | Cày sâu, phá lớp nén, phơi ải; ủ phân hữu cơ cho kịp hoai | Phơi ải giúp đất tơi và giảm một phần mầm bệnh |
| Sau vài trận mưa đầu mùa | Bón vôi, trộn đều khi đất đủ ẩm | Vôi cần ẩm để phản ứng; không bón cùng lúc với phân đạm |
| Vài tuần sau bón vôi | Bón lót hữu cơ hoai và lân, trộn vào tầng củ; lên luống, đào rãnh | Hoàn tất trước khi mưa dầm |
| Đầu mùa mưa ổn định | Trồng cây con hoặc gieo theo kế hoạch giống | Thời vụ cụ thể xem mục giống và nhân giống |
Lịch này đặt việc trồng vào đầu mùa mưa để cây con có nước tự nhiên. Một số vườn chọn trồng muộn hơn hoặc có tưới để chủ động lịch đào; khi đó vẫn giữ nguyên trình tự: kiểm tra, phân tích, vôi, hữu cơ, luống.
Câu hỏi thường gặp
Không gửi mẫu phân tích được thì có bón vôi theo kinh nghiệm được không?
Được ở mức tạm, nhưng rủi ro cao hơn. Đất đỏ quanh hồ thường chua nên bón một lượng vừa phải ít khi hại, song bón quá tay lại gây thiếu vi lượng. Nếu không phân tích được, nên hỏi cán bộ khuyến nông xã lượng thường dùng cho loại đất đó và theo dõi cây. Phân tích đất vẫn là cách tiết kiệm nhất về lâu dài.
Vôi bột và vôi dolomite khác nhau thế nào khi trồng sâm?
Cả hai đều giảm chua. Vôi nông nghiệp thông thường chủ yếu bổ sung can-xi; vôi dolomite bổ sung cả can-xi và ma-giê, hợp với đất bazan bị rửa trôi thiếu ma-giê. Chọn loại nào nên dựa vào kết quả phân tích can-xi, ma-giê của đất. Vôi sống và các loại vôi phản ứng mạnh, dễ gây nóng rễ nếu dùng không đúng.
Vỏ cà phê phải ủ bao lâu mới bón cho luống sâm được?
Thời gian tùy cách ủ, lượng phân chuồng trộn kèm, chế phẩm vi sinh, độ ẩm và việc đảo đống. Thay vì tính theo số tuần, nên nhìn vào sản phẩm: đống ủ không còn nóng, vỏ đã mềm, bóp vụn, màu nâu đen, không còn mùi chua gắt. Chưa đạt thì để thêm, đừng vội bón.
Đất mới khai phá còn nhiều mùn có cần bón hữu cơ nữa không?
Vẫn nên bón, dù ít hơn. Đất mới vỡ giàu mùn ở năm đầu nhưng mùn phân giải rất nhanh trong khí hậu nóng ẩm, chỉ vài vụ đã giảm rõ. Bổ sung hữu cơ ngay từ đầu giúp giữ độ tơi lâu dài cho các vụ sau, đỡ phải cải tạo nặng khi đất đã chai.
Có cần xử lý đất bằng thuốc trước khi trồng sâm không?
Không nên mặc định xử lý bằng hoá chất. Phơi ải đất, dọn sạch rễ cũ, dùng phân hoai và luân canh đã giảm đáng kể mầm bệnh. Nếu lô có tiền sử bệnh đất nặng, nên hỏi cán bộ bảo vệ thực vật; mọi thuốc dùng cho cây dược liệu phải đúng loại được phép, đúng nhãn và đúng thời gian cách ly.
Làm đất bằng máy hay bằng tay tốt hơn cho luống sâm?
Máy cày giúp phá lớp nén và tiết kiệm công trên diện tích lớn, còn làm tay kỹ hơn ở khâu nhặt rễ, đá và đập cục. Cách thường dùng là cày máy phần nặng rồi hoàn thiện luống bằng tay. Điều quan trọng là không cho máy đi lại trên luống sau khi đã làm tơi.