Ở vùng hồ Tà Đùng, nhà vườn thường đào củ sâm Bố Chính trong mùa khô, đại thể từ khoảng tháng mười hai tới tháng tư năm sau, tập trung vào những tuần nắng ráo giữa mùa. Lý do rất thực tế: lúc đó cây đã chững lại, củ chắc nhất; đất khô nên đào ít gãy, củ ít bám bùn; và nắng đủ để phơi lát. Mưa đầu mùa, thường rơi vào khoảng tháng tư, tháng năm, là mốc nên đào xong trước.
Lịch này khác vùng trồng gốc ở Bắc Trung Bộ, nơi sách dược liệu ghi mùa đào là các tháng đông lạnh cuối năm và đầu năm. Cây vẫn là một, nhưng trên cao nguyên, nhịp sống của cây và nhịp làm việc của người trồng đều chạy theo hai mùa mưa – khô. Bài này nói vì sao chọn mùa khô, những rủi ro của việc đào sát mùa mưa, cách đọc thời tiết vùng hồ trong mùa đào, và cách xếp lịch cho một vườn vài sào sao cho khâu đào và khâu phơi sấy theo kịp nhau.
Hai mùa của vùng hồ và nhịp của cây sâm
Vùng Đắk Glong cũ, nay là xã Tà Đùng tỉnh Lâm Đồng, mang khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa với hai mùa khá rõ. Mùa mưa thường bắt đầu khoảng tháng tư, tháng năm, mưa nhiều và dai vào giữa mùa, rồi thưa dần vào tháng mười, tháng mười một. Mùa khô kéo dài từ khoảng tháng mười một, mười hai tới tháng ba, tháng tư, nắng nhiều, độ ẩm ban ngày giảm, đêm và sáng sớm mát, hay có sương trên mặt hồ. Các con số tháng chỉ là đại thể; mỗi năm sớm muộn vài tuần.
Cây sâm Bố Chính lớn mạnh trong mùa mưa: đất đủ ẩm, cây ra lá, ra hoa, củ phình dần. Bước vào mùa khô, nước giảm, lá già vàng rụng, cây chuyển chất dự trữ xuống củ và chững lại. Thời điểm củ chắc nhất vì thế thường rơi vào giữa mùa khô. Nếu vườn có tưới đều qua mùa khô, cây có thể giữ lá xanh lâu hơn, và mốc này lùi lại một chút.
Như vậy, mùa khô vừa là lúc củ đạt, vừa là lúc trời giúp cho khâu phơi. Hai điều đó trùng nhau là may mắn của người trồng sâm trên cao nguyên. Ở vùng gốc, mùa đào lại là mùa đông có thể âm u, mưa phùn, phải ủ, sấy nhiều hơn.
Vì sao nên đào xong trước mưa đầu mùa
Củ hút nước trở lại. Khi đất được tưới lại bằng những trận mưa đầu mùa, cây bắt đầu đâm chồi mới, lấy chất dự trữ trong củ ra nuôi mầm. Củ ngậm nước nhiều hơn, ruột bớt chắc, phơi lâu khô hơn và hao hụt nhiều hơn.
Nguy cơ thối củ tăng nhanh. Đất bazan sau mưa giữ ẩm tốt, nếu luống không đủ cao và rãnh không thoát kịp, củ nằm trong đất ẩm ấm là điều kiện cho nấm và vi khuẩn gây thối phát triển. Củ già, có vết nứt hay vết sâu đục càng dễ bị.
Đất dính, đào dễ gãy. Đất đỏ khô thì tơi, xới ra dễ. Đất đỏ ướt thì dẻo, bám chặt vào củ, phải dùng sức bẩy, củ dễ gãy ngang, dập đầu. Củ gãy phải sơ chế ngay, không để được.
Phơi không kịp. Mưa đầu mùa thường đến bất chợt vào buổi chiều. Một mẻ lát đang phơi gặp mưa là mẻ đó có thể thâm, chua. Nếu chưa có nhà sấy hay giàn che, đào sát mùa mưa là đặt cược cả mẻ hàng vào thời tiết.
Chọn ngày đào trong mùa khô
Ngay giữa mùa khô vẫn có những đợt trời âm u vài ngày, nhất là khi có không khí lạnh tràn về hay bão ở biển Đông ảnh hưởng. Ngày đào tốt là ngày đất đã ráo ít nhất vài hôm, dự báo vài ngày tới còn nắng, để mẻ lát vừa thái có đủ nắng đầu. Anh chị nên xem dự báo thời tiết nhiều ngày của khu vực trước khi gọi người đào, đừng chỉ nhìn trời buổi sáng.
Trong ngày, nên đào từ sáng sớm tới giữa buổi. Lúc đó trời mát, củ đào lên ít bị nắng gắt làm héo vỏ, người làm cũng đỡ mệt. Củ đào buổi sáng thì rửa, cạo, thái kịp để trải ra giàn phơi trước khi nắng mạnh nhất. Đào buổi chiều thì củ phải nằm qua đêm mới phơi, mà củ tươi đã cạo vỏ để qua đêm sẽ thâm mặt, có khi hấp hơi nếu chất đống.
Gió cũng nên để ý. Giữa mùa khô, vùng cao nguyên có những đợt gió mùa đông bắc thổi mạnh, khô hanh. Gió khô giúp lát mau se mặt, nhưng nếu quá mạnh thì thổi bụi đỏ từ đường đất, từ rẫy vừa làm cỏ bám lên lát đang phơi. Những ngày đó nên phơi ở chỗ khuất gió, có lưới chắn, hoặc phơi trong nhà phơi mái che có vách lưới, đừng phơi ngay cạnh đường đất.
Sương sáng vùng hồ là chuyện cần tính. Những buổi sương dày, mặt đất và lá ẩm tới khi nắng lên. Đào khi đất còn đẫm sương thì củ bám đất ướt, rửa lâu hơn. Nhiều nhà vườn chờ sương tan một chút mới xuống luống, dùng khoảng đầu buổi để chuẩn bị dụng cụ, khu rửa, nong nia.
Lịch tham khảo cho một vụ đào ở vùng hồ
Bảng dưới là khung tham khảo theo nhịp mùa thường gặp ở vùng hồ Tà Đùng. Tháng cụ thể xê dịch theo từng năm và theo ngày trồng của lô; anh chị chỉnh theo sổ ghi chép của vườn mình.
| Giai đoạn | Thời gian đại thể | Việc chính |
|---|---|---|
| Cuối mùa mưa | Khoảng tháng mười – mười một | Khơi rãnh, kiểm tra thối củ, sửa nhà phơi, nhà sấy |
| Đầu mùa khô | Khoảng tháng mười một – mười hai | Theo dõi lá vàng, đào thử các lô già nhất |
| Giữa mùa khô | Khoảng tháng một – ba | Đào chính, phơi lát, đóng túi theo lô |
| Cuối mùa khô | Khoảng tháng ba – tư | Đào nốt lô muộn, ưu tiên chỗ chân dốc dễ úng |
| Chớm mưa | Khoảng tháng tư – năm | Dừng đào lô đại trà, chuẩn bị đất và giống cho vụ mới |
Lô trồng muộn trong mùa mưa năm trước có khi chưa đủ củ vào giữa mùa khô. Khi đó phải cân nhắc: đào sớm chấp nhận củ hơi non, hay để qua một mùa mưa nữa với rủi ro thối củ. Câu trả lời tuỳ chỗ đất cao hay thấp, thoát nước tốt hay kém.
Xếp lịch đào theo sức của khâu sơ chế
Sai lầm phổ biến của vườn mới là đào nhiều hơn khả năng phơi sấy. Củ sâm tươi không để lâu được: củ đã rửa, cạo vỏ mà không thái, phơi trong ngày thì thâm, héo; củ chưa rửa chất trong bao thì hấp hơi, đầu củ mềm dần. Vì vậy, lượng đào mỗi ngày phải bằng lượng mà khu rửa và giàn phơi, lò sấy của nhà mình xử lý hết trong ngày đó.
Cách tính đơn giản: đo diện tích giàn phơi hoặc số khay sấy, rải thử một lớp lát mỏng để biết mỗi mét vuông chứa được bao nhiêu ký lát tươi, rồi suy ngược ra lượng củ cần đào. Ví dụ giả định: giàn phơi chứa được khoảng một trăm ký lát tươi mỗi đợt, mỗi đợt nắng tốt cần ba bốn ngày mới khô, thì trong ba bốn ngày đó chỉ nên đào thêm khi có chỗ trống. Nhà vườn có thêm lò sấy thì xoay vòng nhanh hơn.
Nhân công cũng là điểm nghẽn. Mùa khô cũng là mùa hái cà phê quanh hồ, người làm thuê bận, công đắt hơn và khó gọi hơn. Vườn trồng xen sâm dưới tán cà phê càng phải tính kỹ: hái cà phê trước hay đào sâm trước, sân phơi dùng cho cái nào. Nhiều nhà chọn đào sâm sau khi xong đợt hái cà phê chính, khi sân phơi rảnh và người làm đã quen việc.
Khi buộc phải đào trong mùa mưa
Có những lúc không chọn được: luống bị úng, cây héo hàng loạt, củ bắt đầu thối; hoặc người mua cần củ tươi gấp; hoặc lô đã quá lứa mà mùa khô vừa rồi chưa kịp đào. Khi đó, đào trong mùa mưa vẫn làm được, nhưng phải đổi cách làm cho hợp.
Chọn những buổi sáng sau một đêm không mưa, đất đã ráo bề mặt. Đào gọn từng luống, đưa củ về chỗ có mái che ngay. Củ đào trong mùa mưa nên ưu tiên bán tươi hoặc đưa thẳng vào lò sấy, không trông vào phơi nắng. Với lô bị thối một phần, phải loại kỹ từng củ ngay tại ruộng: củ mềm, có mùi chua, vỏ thâm loang là bỏ, không mang về chung với củ lành, vì mầm bệnh lây qua nước rửa, qua dao thái.
Sau khi đào những lô bị úng, đừng trồng sâm lại ngay chỗ đó. Đất ấy cần thời gian, cần cải tạo, khơi rãnh, nâng luống, và tốt nhất là luân canh sang cây khác một thời gian. Chuyện chọn đất, chọn lô anh chị xem thêm ở danh mục vùng trồng và thổ nhưỡng của trang.
Sau khi đào xong: luống, đất và chuẩn bị cho vụ tới
Đào xong một lô không có nghĩa là xong việc ở lô đó. Đất vừa đào bị xới tung, nếu để trơ qua những tuần nắng cuối mùa khô rồi gặp mưa đầu mùa, lớp đất mặt tơi sẽ bị cuốn trôi xuống chân dốc, nhất là ở những lô dốc nhìn xuống hồ. Nhiều nhà vườn gom thân lá sâm đã cắt, trừ phần cây bệnh, rải lại làm lớp phủ mỏng, hoặc gieo một lớp cây phủ đất ngắn ngày để giữ đất trong lúc chờ vụ mới.
Thân lá và củ của cây bị bệnh thì không để lại trên luống. Gom riêng, đưa ra khỏi vườn, xử lý xa nguồn nước và xa luống sâm khác. Mầm bệnh thối củ tồn tại trong tàn dư cây và trong đất ẩm; để tàn dư bệnh nằm lại là chuẩn bị sẵn nguồn bệnh cho vụ sau.
Không nên trồng lại sâm ngay trên luống vừa đào nếu vụ đó tỉ lệ thối củ cao. Kinh nghiệm chung với cây lấy củ là luân canh, đổi chỗ trồng, để đất nghỉ hoặc trồng cây khác họ một thời gian. Nếu buộc phải trồng lại vì thiếu đất, ít nhất phải cày phơi ải, bón hữu cơ hoai mục, nâng luống cao hơn và khơi rãnh sâu hơn vụ trước.
Cuối cùng, khi đã đào xong cả vườn và lát khô đã vào kho, hãy dành một buổi xem lại sổ ghi: lô nào đạt củ sớm, lô nào muộn, đợt nào gặp mưa, mẻ nào hao hụt nhiều. Từ đó quyết định ngày trồng cho mùa mưa tới, sao cho các lô không đạt củ cùng một lúc mà rải đều trong mùa khô, vừa sức khâu đào và khâu phơi sấy của nhà mình.
Câu hỏi thường gặp
Đào sâm vào tháng sáu, tháng bảy ở Tà Đùng có được không?
Được nếu bắt buộc, nhưng đó là giữa mùa mưa: đất ướt dính, củ dễ gãy, phơi khó và rủi ro thối cao. Nên đào vào sáng ráo, đưa củ vào sấy hoặc bán tươi ngay. Lô không gấp thì chờ mùa khô sẽ cho lát khô đẹp và ít hao hụt hơn.
Có nên tưới trước khi đào cho đất mềm không?
Không nên tưới đẫm vì củ sẽ hút nước và đất đỏ ướt sẽ bám dính. Nếu đất quá khô cứng, có thể tưới nhẹ chiều hôm trước để mặt đất bớt chai, sáng hôm sau đất vừa ẩm vừa tơi, dễ xới. Thử trước ở một luống nhỏ.
Đào xong mà trời mưa bất chợt thì làm sao?
Đưa củ chưa rửa vào chỗ khô thoáng, trải mỏng, không chất đống trong bao. Lát đang phơi thì gom vào nhà, trải mỏng trên khay, bật quạt cho thoáng. Nếu có lò sấy thì chuyển ngay vào sấy ở nhiệt thấp; nếu mưa kéo dài nhiều ngày, nên tạm ngưng đào.
Mùa đào ở Tà Đùng có trùng mùa hái cà phê không?
Có trùng một phần, vì cả hai đều rơi vào mùa khô. Đó là lý do nhân công và sân phơi hay bị giành nhau. Nên tính trước: lô sâm nào đào trước, lô nào đào sau đợt hái cà phê chính, và khu phơi sâm phải tách khỏi sân phơi cà phê để tránh lẫn bụi, mùi.
Xem thời tiết ở đâu để lên lịch đào?
Có thể dùng bản tin dự báo của cơ quan khí tượng cho khu vực Tây Nguyên và tỉnh Lâm Đồng, cộng với các ứng dụng dự báo theo vị trí. Nên xem dự báo nhiều ngày, nhất là khả năng mưa chiều, rồi đối chiếu với kinh nghiệm của người trồng lâu năm quanh hồ.