Ở vùng hồ Tà Đùng, thời điểm trồng sâm Bố Chính ra ruộng thuận nhất là đầu mùa mưa, khi mưa đã đều và đất thấm sâu, thường vào khoảng giữa năm. Muốn có cây con đủ tuổi đúng lúc ấy, phải gieo ươm sớm hơn vài tuần, rơi vào cuối mùa khô, nên vườn ươm cần nguồn tưới chủ động. Lịch "gieo đầu xuân" quen thuộc ở vùng cát Quảng Bình không mang nguyên lên cao nguyên được.
Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài nhiều tháng từ khoảng giữa năm, mùa khô từ khoảng cuối năm tới đầu năm sau. Lịch này gần như ngược pha với Bắc Trung Bộ, nơi mưa lớn dồn vào mùa thu và đầu đông. Bài này giúp anh chị dựng lịch giống cho vườn sâm quanh hồ bằng cách đếm ngược từ ngày trồng, kèm những điều chỉnh khi năm đó mưa đến sớm, đến muộn hay hạn kéo dài. Các mốc tháng dưới đây là khung tham khảo theo khí hậu chung của vùng; từng năm phải nhìn trời và đất thực tế.
Hai lịch mưa khác nhau: vùng gốc và vùng hồ
So sánh khái quát để thấy vì sao không thể bê nguyên lịch vùng Bố Chính lên Tà Đùng:
| Đặc điểm | Vùng cát Bố Chính (Bắc Trung Bộ) | Vùng hồ Tà Đùng (Tây Nguyên) |
|---|---|---|
| Mùa mưa chính | Dồn vào mùa thu, đầu đông, kèm mưa bão | Khoảng giữa năm tới cuối năm, kéo dài nhiều tháng |
| Mùa khô, nóng | Mùa hè có gió tây khô nóng | Khoảng cuối năm tới đầu năm sau, nắng hanh, gió |
| Lúc đất ẩm thuận để gieo trồng | Đầu xuân, sau mùa mưa | Đầu mùa mưa, khi mưa đã đều |
| Đất | Cát pha, thoát nước rất nhanh | Đỏ bazan, tơi, giữ ẩm nhiều hơn |
| Nỗi lo lớn nhất với cây non | Khô hạn, gió nóng mùa hè | Mưa to đập cây, úng, thối gốc giữa mùa mưa |
| Thời điểm đào củ thường gặp | Các tháng cuối năm và đầu năm sau | Mùa khô, khi thân lá tàn bớt |
Điểm chung là cả hai vùng đều đào củ vào mùa khô, khi củ đã tích đủ tinh bột và đất ráo dễ đào. Khác nhau nằm ở nửa đầu của vụ: gieo và trồng lúc nào để cây non có đủ nước mà không bị úng.
Đếm ngược từ ngày trồng ra ruộng
Cách dựng lịch đơn giản nhất là bắt đầu từ ngày muốn trồng rồi lùi lại. Giả sử năm nay mưa thường đều vào một khoảng nào đó giữa năm, anh chị định trồng ngay sau đợt mưa thấm sâu đầu tiên. Từ mốc đó lùi lại thời gian luyện cây khoảng một hai tuần, thời gian cây ở bầu tới khi có vài lá thật khoẻ thêm vài tuần nữa, rồi thêm ít ngày ngâm ủ hạt. Cộng lại, ngày gieo ươm thường rơi vào khoảng một đến hai tháng trước ngày trồng, tức là cuối mùa khô.
Các khoảng thời gian trên là ước lượng chung cho cây con thân thảo; tốc độ thật phụ thuộc nhiệt độ vườn ươm, giá thể và lô hạt. Vụ đầu, nên ghi lại ngày gieo, ngày cây nhú, ngày đủ tiêu chuẩn, để vụ sau đếm ngược bằng số liệu của chính vườn mình. Một mẹo hay dùng là gieo làm hai ba đợt cách nhau một hai tuần. Nếu mưa đến sớm, đợt đầu đã sẵn sàng; nếu mưa đến muộn, đợt sau vẫn chưa quá lứa trong bầu.
Cũng nên tính ngược cho các việc chuẩn bị khác: thử nảy mầm hạt trước ngày gieo khoảng một tháng, đóng bầu và dựng giàn che trước ngày gieo vài tuần, làm đất lên luống ruộng trước ngày trồng để đất kịp nghỉ.
Khung lịch tham khảo một vụ sâm quanh hồ
Các mốc dưới đây gắn với mùa chứ không gắn cứng vào tháng. Từng năm, xê dịch theo thời điểm mưa thật sự bắt đầu.
| Thời điểm | Vườn ươm | Ruộng và luống cây mẹ |
|---|---|---|
| Giữa mùa khô | Thử nảy mầm hạt, chuẩn bị giá thể | Đào củ vụ trước, giữ lại khóm giống trên luống |
| Cuối mùa khô | Đóng bầu, ngâm ủ, gieo hạt các đợt; tưới chủ động | Làm đất, bón lót hữu cơ hoai, lên luống cao, đào rãnh |
| Những cơn mưa đầu mùa | Luyện cây, gỡ dần lưới che | Đào khóm giống, tách đầu củ, hong vết cắt |
| Mưa đã đều, đất thấm sâu | Xuất vườn cây đạt chuẩn | Trồng cây con và đầu củ, phủ gốc, dặm cây |
| Giữa mùa mưa | Dọn vườn ươm, vệ sinh dụng cụ | Khơi rãnh, làm cỏ, chọn và đánh dấu cây mẹ |
| Cuối mùa mưa, chuyển sang khô | Chuẩn bị cất hạt | Cây ra hoa, đậu quả; thu quả nhiều lượt, phơi, cất hạt |
| Mùa khô năm sau | Bắt đầu vòng mới | Thân lá tàn bớt; đào củ khi đủ tuổi |
Theo các tài liệu ở vùng gốc, cây gieo thường bắt đầu trổ hoa sau khoảng năm, sáu tháng và củ thường được đào sau khoảng một năm hoặc lâu hơn. Trên đất bazan quanh hồ, nhà vườn cần tự ghi chép để biết các mốc này dịch đi thế nào so với vùng cát.
Gieo sớm hay gieo muộn: được và mất
Gieo sớm, cây con sẵn sàng trước khi mưa đều, có lợi là không bỏ lỡ những tuần đầu mùa mưa quý giá, cây có cả mùa để lớn củ. Cái giá là phải giữ cây trong bầu lâu hơn nếu mưa đến muộn, rễ dễ cuộn đáy, và vườn ươm phải tưới nhiều trong những tuần nắng hanh cuối mùa khô. Nếu vườn có giếng, có bồn chứa và người tưới đều, gieo sớm là lựa chọn hợp lý.
Gieo muộn, chờ mưa xuất hiện rồi mới gieo, đỡ tưới nhưng cây con ra ruộng khi mùa mưa đã vào giai đoạn dầm dề. Cây non trên luống gặp những đợt mưa to liên tiếp dễ dập lá, đất bắn lấp cây, gốc úng. Cây cũng có ít thời gian tích củ trước khi mùa khô đến. Trồng hẳn vào cuối mùa mưa thì cây non phải đi tiếp qua cả mùa khô, chỉ nên làm khi có tưới chủ động và chấp nhận củ vụ đó nhỏ hơn.
Với vườn mới quanh hồ, cách cân bằng hay gặp là gieo phần lớn vào cuối mùa khô có tưới, giữ một đợt gieo muộn nhỏ làm cây dự phòng để dặm.
Khi năm đó thời tiết lệch lịch
Mưa đến sớm bất thường. Nếu cây con đã đủ chuẩn thì trồng sớm theo mưa, nhưng chờ đến khi đất thấm sâu chứ không trồng sau một cơn mưa giông lẻ. Cây chưa đủ chuẩn thì tiếp tục giữ trong vườn ươm, che mưa to.
Mưa đến muộn, nắng kéo dài. Đây là lúc gieo nhiều đợt phát huy tác dụng. Giữ cây trong bầu, giảm bón, tăng luyện nắng để cây cứng; nếu cây sắp quá lứa mà vẫn chưa mưa, trồng vào luống có tưới thay vì để rễ cuộn trong bầu.
Những năm hạn kéo dài. Các đợt hạn trên Tây Nguyên thường gắn với những năm khí hậu bất thường. Theo dõi bản tin dự báo mùa của cơ quan khí tượng thuỷ văn trước khi gieo, chuẩn bị bồn chứa, phủ gốc dày hơn sau khi trồng.
Mưa dầm dài giữa vụ. Lúc này cây đã ra ruộng, việc chính là thoát nước: khơi rãnh, nâng chỗ luống lún, nhổ cây thối sớm. Đây cũng là dịp nhận ra cây mẹ chịu úng tốt để ghi vào sổ.
Lịch riêng cho luống cây mẹ và hạt giống
Ruộng sản xuất và luống cây mẹ dùng chung khung mùa nhưng có vài điểm khác. Luống cây mẹ nên được trồng sớm nhất trong vụ, bằng những cây con đẹp nhất của đợt gieo đầu, để cây có đủ thời gian lớn, ra hoa và chín quả trước khi mùa mưa kết thúc. Quả chín trong những tuần cuối mùa mưa, đầu mùa khô thì phơi hạt dễ hơn hẳn quả chín giữa lúc mưa dầm. Trồng luống cây mẹ muộn, quả chín muộn kéo sang giữa mùa khô thì dễ phơi nhưng cây đã qua nhiều tuần thiếu nước, hạt có thể kém chắc.
Hạt thu được cất qua mùa khô và dùng cho đợt gieo ươm cuối mùa khô năm sau, tức là thời gian cất hạt ở Tà Đùng tương đối ngắn, chỉ vài tháng. Đây là một thuận lợi: hạt không phải nằm qua cả mùa mưa ẩm như khi thu hạt vào đầu mùa mưa. Nếu vì lý do nào đó phải giữ hạt sang năm thứ hai, hãy cất trong hũ kín ở ngăn mát và thử nảy mầm trước khi dùng. Lịch này cũng cho thấy vì sao không nên ngắt hoa ở luống cây mẹ: mỗi lứa hoa bị ngắt là mất một lứa quả, mà thời gian để cây kịp ra lứa khác trước mùa khô không nhiều.
Lịch sâm và lịch cà phê: tính trước nhân công
Phần lớn hộ quanh hồ trồng sâm không chỉ trồng sâm. Cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái là nguồn thu chính, và lịch của chúng chồng lên lịch sâm ở mấy điểm. Mùa thu hái cà phê trên Tây Nguyên thường rơi vào cuối mùa mưa sang đầu mùa khô, đúng lúc luống cây mẹ chín quả cần đi hái nhiều lượt, và gần với mùa đào củ sâm. Đầu mùa mưa lại là lúc bón phân, làm cỏ cho cà phê, trùng với lúc trồng sâm ra ruộng.
Nếu không tính trước, việc dễ bị bỏ nhất thường là việc của sâm, vì nó nhỏ hơn: quả sâm chín nứt rơi hạt vì không ai hái, cây con quá lứa trong bầu vì người còn bận vườn cà phê. Cách xoay xở thực tế là xếp lịch sâm lệch khỏi các đỉnh việc của cây chính khi có thể: gieo ươm sớm hơn chút để trồng xong trước đợt bón cà phê, giao riêng một người trong nhà phụ trách luống cây mẹ trong mùa thu hái. Với hộ thuê nhân công, báo trước cho người làm về các ngày đào củ giúp tránh cảnh tranh người với vườn bên cạnh.
Mỗi vườn một lịch: ghi chép để chỉnh dần
Quanh hồ Tà Đùng, lô đất ven mặt nước, lô trên sườn dốc và lô trên đỉnh đồi có thể chênh nhau về độ ẩm, sương và gió. Lịch chung của cả vùng chỉ là điểm xuất phát. Sau một hai vụ, những ghi chép đơn giản như ngày mưa đều đầu tiên ở vườn mình, ngày gieo từng đợt, ngày trồng, tỉ lệ chết dặm, ngày cây ra hoa đầu tiên, ngày thu quả và ngày đào củ sẽ cho anh chị một cuốn lịch riêng sát thực tế hơn bất kỳ tài liệu nào.
Cuốn lịch ấy còn giúp nói chuyện với người mua và với cán bộ khuyến nông bằng dữ liệu thay vì ấn tượng. Khi một năm cây kém, anh chị có thể so với năm trước để biết là do gieo muộn, do hạt, hay do mưa. Và khi làm hồ sơ vùng trồng, nhật ký mùa vụ chính là một trong những giấy tờ được hỏi tới.
Câu hỏi thường gặp
Có thể trồng sâm quanh năm ở Tà Đùng nếu có tưới không?
Về kỹ thuật, có tưới thì cây sống được ngoài mùa chính. Nhưng trồng giữa mùa mưa dễ úng, trồng giữa mùa khô tốn nước và công, củ vụ đó thường không bằng. Phần lớn vườn chọn trồng đầu mùa mưa và coi các thời điểm khác là phụ, để dặm hoặc thử nghiệm.
Tháng nào bắt đầu mùa mưa ở Tà Đùng?
Mùa mưa ở Tây Nguyên thường bắt đầu khoảng giữa năm nhưng xê dịch theo từng năm và từng địa điểm. Nên theo dõi dự báo của cơ quan khí tượng thuỷ văn và quan sát thực tế tại vườn: mưa đều nhiều ngày, đất thấm sâu một gang tay trở lên mới là lúc trồng.
Đào củ sâm vào mùa mưa có được không?
Được nhưng bất lợi: đất bazan ướt dính, củ dễ gãy dập khi đào, và phơi sấy giữa mùa mưa khó khăn, dễ mốc. Phần lớn nhà vườn chờ mùa khô, khi thân lá tàn bớt và đất ráo, mới đào củ đại trà.
Có nên làm hai vụ một năm cho nhanh quay vòng không?
Sâm Bố Chính cần thời gian để củ tích tinh bột; tài liệu ở vùng gốc thường ghi đào sau khoảng một năm hoặc lâu hơn. Ép đào sớm để làm hai vụ thường cho củ nhỏ, nhiều nước. Nên theo dõi chính vườn mình để chọn tuổi đào hợp lý.
Lịch thời vụ của vườn trồng dưới tán cà phê có khác không?
Khung mùa giống nhau, nhưng dưới tán đất giữ ẩm lâu hơn và nắng ít hơn, nên cây có thể lớn chậm hơn và nguy cơ úng cao hơn trong mùa mưa. Luống dưới tán cần thoát nước kỹ, chọn khoảnh thoáng, và ghi chép riêng để so với luống ngoài nắng.
Gieo ươm cuối mùa khô thì cần chuẩn bị nước thế nào?
Ước lượng số bầu và tưới thử một khay để biết mỗi ngày cần bao nhiêu nước, nhân lên cho cả vườn ươm, cộng phần dự phòng cho những ngày gió hanh. Bồn chứa hoặc giếng gần vườn ươm giúp chủ động; tưới bằng ô doa lỗ nhỏ hay vòi phun sương tiết kiệm hơn tưới xối.