Trồng sâm Bố Chính ở vùng hồ Tà Đùng gói lại trong bảy khâu: chọn lô đất dốc vừa, thoát nước nhanh; cải tạo đất đỏ bazan vốn chua bằng vôi và phân hữu cơ hoai; lên luống cao; xuống giống vào đầu mùa mưa; giữ ẩm đều qua mùa khô; phòng thối củ bằng thoát nước và luân canh; và ghi nhật ký từng việc. Cây không khó sống, nhưng củ dễ hỏng nếu đất đọng nước, và chất lượng củ phụ thuộc nhiều vào cách chăm hơn là vào cái tên vùng trồng.
Bên mình viết bài này cho anh chị nhà vườn quanh hồ đang tính dành một phần rẫy cho sâm, hoặc đã trồng vài vụ và muốn làm bài bản hơn. Đây là khung chung để nhìn cả vụ; từng khâu như làm luống, bón phân, tưới, tỉa hoa, sâu bệnh có bài riêng trong cùng chuyên mục. Những gì về cây sâm Bố Chính nói chung, như tên khoa học hay cách nhận dạng, đã có ở trang bochinh, nên ở đây chỉ bàn chuyện trồng trên đất cao nguyên.
Vì sao trồng sâm trên đất bazan khác với vùng cát Quảng Bình
Sâm Bố Chính (Abelmoschus sagittifolius, họ Bông) quen sống ở vùng đồi thấp và đất cát pha Bắc Trung Bộ, nơi nắng gắt và đất thoát nước gần như tức thì. Khi đưa cây lên đất đỏ bazan quanh hồ Tà Đùng, người trồng gặp một nền đất gần như ngược lại: hạt sét mịn, giữ ẩm tốt, giàu sắt nhôm, thường chua, và khi mưa dầm thì tầng mặt có thể bão hoà nước dù ruộng nằm trên dốc.
Điểm lợi của đất bazan là tầng đất dày, tơi khi còn nhiều mùn, cây ít khi thiếu nước trong mùa mưa. Điểm bất lợi là củ sâm nhiều tinh bột và chất nhầy, nằm lâu trong đất ướt thì dễ bị nấm và vi khuẩn tấn công. Vì thế, trên đất này, câu hỏi chính không phải là tưới bao nhiêu mà là làm sao cho nước mưa rút khỏi vùng củ thật nhanh.
Khí hậu cũng khác. Quảng Bình có gió Lào khô nóng mùa hè và mưa bão dồn vào mùa thu. Vùng hồ Tà Đùng theo nhịp Tây Nguyên: mùa mưa thường kéo dài từ khoảng tháng năm tới tháng mười, mười một, mùa khô dài từ cuối năm tới tháng tư, gió mùa thổi mạnh trên đồi trống. Lịch gieo trồng, lịch tưới và thời điểm đào củ vì vậy phải đặt lại theo hai mùa này, không chép nguyên lịch của vùng gốc.
Bảy khâu của một vụ sâm
Thứ tự dưới đây là khung để anh chị lập kế hoạch. Mỗi khâu có điều kiện riêng tuỳ lô đất; con số cụ thể nên đo trên chính vườn mình.
- Chọn lô: đất dốc nhẹ đến vừa, không trũng, nắng được phần lớn ngày, có nguồn nước tưới mùa khô, cách xa ruộng hay phun thuốc mạnh. Tránh lô vừa nhổ sâm hoặc cây cùng họ Bông như đậu bắp năm trước.
- Cải tạo đất: dọn gốc rễ, cày hoặc cuốc sâu, rải vôi trước để hạ độ chua, chờ một thời gian rồi mới trộn phân hữu cơ hoai. Nên lấy mẫu đất đo độ chua trước khi quyết định lượng vôi.
- Lên luống: luống cao, mặt hơi khum, rãnh giữa luống dẫn về mương thoát chính; trên dốc thì luống chạy theo đường đồng mức.
- Xuống giống: cây con ươm trong bầu hoặc gieo thẳng vào đầu mùa mưa khi đất đã ẩm đều; trồng vào chiều mát, tưới đẫm sau trồng.
- Chăm trong mùa mưa: làm cỏ khi cây còn nhỏ, vun gốc, khơi rãnh sau mỗi trận mưa lớn, bón thúc nhẹ theo sức cây, theo dõi sâu ăn lá và rệp.
- Chăm trong mùa khô: tủ gốc, tưới đều theo độ ẩm đất, chắn gió nếu lô trống, quyết định để hoa lấy hạt hay tỉa bớt để nuôi củ.
- Chuẩn bị thu hoạch: ngưng bón đạm từ sớm, đào thử vài khóm để xem củ, ghi lại tuổi cây, ngày đào và tình trạng củ cho vụ sau.
Khâu thứ bảy thật ra chạy suốt vụ: sổ nhật ký ghi ngày trồng, loại phân, lần phun, trận mưa lớn, cây chết. Sổ này vừa giúp anh chị rút kinh nghiệm, vừa là bằng chứng khi người mua hay cơ quan kiểm tra hỏi củ được trồng thế nào.
Ba điều quyết định củ tốt hay hỏng
Thoát nước. Phần lớn vườn sâm thất bại trên đất đỏ vì củ thối chứ không vì cây chậm lớn. Luống cao, rãnh thông, đất nhiều mùn để tơi là ba lớp bảo vệ. Một vườn có rãnh tốt nhưng đất bị nén chặt vẫn đọng nước quanh củ, nên khâu làm đất không thể làm qua loa.
Đất bớt chua và đủ mùn. Đất bazan khai thác lâu năm cho cà phê, hồ tiêu thường chua và đã bị bón nhiều phân hoá học. Vôi giúp hạ chua, phân hữu cơ hoai giúp đất tơi và nuôi vi sinh vật có ích. Đây là việc làm trước vụ, bù lại thì trong vụ đỡ lo bệnh.
Ít hoá chất. Củ sâm dùng làm thực phẩm và dược liệu, người mua ngày càng hỏi về dư lượng. Mỗi lần phun thuốc là một rủi ro cho cả lô hàng. Phòng bằng canh tác, dùng chế phẩm sinh học khi cần, và ghi lại mọi lần phun là cách giữ được đầu ra.
Việc chính theo hai mùa ở vùng hồ
Bảng dưới đây khái quát nhịp chăm sóc theo khí hậu Tây Nguyên. Từng năm mưa sớm, mưa muộn khác nhau; anh chị theo dõi thời tiết thực tế để điều chỉnh.
| Thời gian (thường) | Cây ở giai đoạn | Việc chính |
|---|---|---|
| Cuối mùa khô | Chưa trồng | Dọn lô, rải vôi, làm đất, ủ phân, ươm cây con |
| Đầu mùa mưa | Cây con ra luống | Trồng, tưới đẫm, làm cỏ, che gió cho cây non nếu cần |
| Giữa mùa mưa | Cây vươn thân, ra lá | Khơi rãnh, vun gốc, bón thúc nhẹ, theo dõi thối gốc |
| Cuối mùa mưa | Ra nụ, nở hoa | Quyết định tỉa hoa hay giữ hoa lấy hạt, phòng sâu ăn lá |
| Mùa khô | Củ tích tinh bột | Tủ gốc, tưới đều, chắn gió, ngưng đạm |
| Cuối mùa khô năm sau | Củ đạt tuổi | Đào thử, thu hoạch, giữ củ hoặc hạt giống |
Củ thường được đào vào mùa khô vì đất khô dễ đào, củ ít dính bùn và trời nắng thuận cho khâu phơi sấy. Tuổi củ khi đào và cách sơ chế thuộc chuyên mục thu hoạch – sơ chế của trang.
Chi phí và công lao động cần tính trước
Bên mình không đưa con số chi phí vì giá phân, giá công và giá giống ở vùng hồ thay đổi theo từng năm. Nhưng anh chị có thể tự liệt kê các khoản theo đúng các khâu ở trên: tiền giống hoặc công ươm, vôi và phân hữu cơ, công làm đất và lên luống, ống tưới và điện bơm, công làm cỏ, chế phẩm sinh học, công đào và sơ chế. Khoản dễ bị quên nhất là công làm cỏ tay trong mùa mưa, vì sâm là cây thân thảo, không chịu nổi cỏ lấn khi còn nhỏ.
Một cách tính thận trọng là coi vụ đầu như vụ học. Trồng diện tích nhỏ, ghi đủ mọi khoản chi và giờ công, rồi mới nhân lên. Ghi cả những khoản không mất tiền mặt, như công của chính người trong nhà và phân chuồng tự có, vì khi mở rộng phải thuê hoặc mua những thứ đó. Nhiều nhà vườn quen làm cà phê ước công theo cây cà phê, trong khi vườn sâm cần công chăm tỉ mỉ hơn trên mỗi mét vuông. Chênh lệch này chỉ lộ ra khi đã trồng thật.
Đầu ra cũng cần tính trước khi xuống giống: bán củ tươi cho thương lái, tự phơi sấy bán lát khô, hay gửi cho cơ sở chế biến. Mỗi hướng đòi hỏi thời điểm đào và cách xử lý củ khác nhau. Phần kinh tế vườn sâm có bài phân tích riêng, ở đây chỉ nhắc rằng kỹ thuật trồng nên chọn theo đầu ra, không ngược lại.
Những sai lầm hay gặp ở vườn sâm mới
Sai lầm đầu tiên là trồng sâm ngay trên đất vừa nhổ cà phê hay hồ tiêu già mà không cải tạo. Đất đó thường chua, nghèo mùn, có khi mang tuyến trùng và nấm hại rễ tích luỹ nhiều năm. Cây sâm non trồng vào dễ còi, vàng lá, và tới mùa mưa thì thối hàng loạt. Nên cho đất nghỉ, bón vôi, bón hữu cơ, hoặc trồng một vụ cây khác họ trước.
Sai lầm thứ hai là làm luống thấp cho đỡ công. Trên đất cát, luống thấp có thể chấp nhận được; trên đất bazan, một tuần mưa dầm là đủ làm vùng rễ ngập nước. Sai lầm thứ ba là bón nhiều đạm cho cây xanh tốt: thân lá um tùm, nhìn đẹp, nhưng củ nhỏ, mọng nước và dễ thối hơn.
Sai lầm thứ tư là mua giống trôi nổi không rõ cây mẹ, rồi tới khi ra hoa mới biết lẫn cây khác. Sai lầm thứ năm là đào cây thuốc trong rừng Vườn quốc gia Tà Đùng về làm giống hay trồng thử; việc này vừa trái quy định bảo vệ rừng đặc dụng, vừa không cần thiết vì giống sâm trồng có nguồn rõ ràng hơn. Chọn giống và nhân giống có chuyên mục riêng của trang.
Sổ nhật ký vườn sâm: ghi gì cho đủ dùng
Nhiều nhà vườn quanh hồ làm cà phê hàng chục năm mà không cần sổ sách, vì cây quen tay. Với sâm, sổ ghi chép đáng công hơn nhiều, vì đây là cây mới trên đất này và mỗi vụ là một lần học. Sổ không cần cầu kỳ: một quyển vở, mỗi trang một tuần, hoặc ghi chú trên điện thoại kèm ảnh chụp luống.
Những mục nên có: ngày làm đất, loại vôi và phân đã dùng, ngày trồng và nguồn cây con; các lần bón thúc, loại phân; mỗi lần phun bất cứ thứ gì, kể cả chế phẩm sinh học, ghi tên sản phẩm và ngày; các trận mưa lớn và chỗ bị đọng nước; ngày thấy hoa đầu tiên; số cây chết và lý do đoán được; ngày đào, khối lượng củ và tỷ lệ củ hỏng.
Sau hai, ba vụ, quyển sổ trả lời được những câu mà không tài liệu nào trả lời thay: lô nào của mình hay úng, tháng nào sâu ăn lá rộ, bón phân gì thì củ chắc, đào ở tuổi nào thì đẹp. Khi người mua hoặc đơn vị thu mua có truy xuất hỏi vùng trồng, quyển sổ cùng ảnh chụp theo thời gian là bằng chứng gọn nhất cho thấy củ được trồng ở Tà Đùng và được chăm ra sao. Phần chất lượng và truy xuất của trang có bài nói kỹ hơn về việc này.
Câu hỏi thường gặp
Sâm Bố Chính có trồng được dưới tán cà phê ở Tà Đùng không?
Trồng được ở mức nhất định, nhất là trong hàng cà phê còn non hoặc vườn được tỉa thoáng. Sâm ưa nắng, dưới tán dày thì cây vươn cao, ít hoa, củ nhỏ. Trồng xen có lợi về che gió và giữ ẩm nhưng phải chia nước, chia phân và cẩn thận khi phun thuốc cho cây chính.
Nên trồng sâm vào tháng mấy ở vùng hồ Tà Đùng?
Thường là đầu mùa mưa, khi mưa đã đều và đất ẩm sâu, để cây con bén rễ mà không phải tưới nhiều. Ươm cây con từ cuối mùa khô để kịp ra luống. Trồng giữa mùa khô vẫn được nếu có nước tưới ổn định, nhưng tốn công hơn và cây non dễ bị gió làm héo.
Đất đỏ bazan có cần bón vôi trước khi trồng sâm không?
Phần lớn đất đỏ bazan trồng cà phê lâu năm có xu hướng chua, nên bón vôi thường có lợi. Cách chắc nhất là lấy mẫu đất đo độ chua trước, vì bón vôi quá tay cũng làm cây khó hút một số vi lượng. Rải vôi trước, chờ một thời gian rồi mới bón phân chuồng, không trộn chung một lúc.
Một vụ sâm Bố Chính trên cao nguyên kéo dài bao lâu?
Củ thường được đào sau khoảng một năm hoặc lâu hơn, tuỳ mục đích bán củ tươi hay để củ lớn hơn. Trên cao nguyên, người trồng hay chọn đào vào mùa khô cho dễ phơi sấy. Nên đào thử vài khóm trước khi đào cả lô để xem củ đã chắc chưa.
Có cần giấy phép gì để trồng sâm trên đất rẫy của mình không?
Trồng sâm trên đất nông nghiệp của gia đình nhìn chung không cần giấy phép riêng. Khi muốn bán theo chuỗi có truy xuất, xin mã số vùng trồng hay làm sản phẩm đóng gói thì mới cần hồ sơ theo quy định hiện hành. Anh chị hỏi cán bộ nông nghiệp xã để biết thủ tục cập nhật.
Người mới nên bắt đầu với diện tích bao nhiêu?
Không có con số chung, nhưng nên bắt đầu ở diện tích mà gia đình tự chăm được hết bằng tay, kể cả làm cỏ trong mùa mưa. Vụ đầu dùng để học đất, học mùa và ghi chi phí thật. Khi đã biết lô của mình hay úng ở đâu, sâu nào hay đến, mới mở rộng.